Nội dung

Trực giác hình học của định thức

Định thức thường bị học theo kiểu “một công thức để bấm”, nên rất dễ thành một mớ ký hiệu khó nhớ: hoán vị, đổi dấu, khai triển Laplace, ma trận con… Nhưng trực giác ban đầu của định thức thật ra khá gọn:

định thức đo xem một phép biến đổi tuyến tính đã làm co giãn diện tích hay thể tích ra sao, và liệu nó có làm không gian bị sụp đổ hay không.

Đó là cách nhìn tự nhiên nhất để bước vào chủ đề này.

1. Câu hỏi gốc: khi nào hệ phương trình có nghiệm duy nhất?

$$ \begin{cases} a_{11}x_1+a_{12}x_2=b_1,\\ a_{21}x_1+a_{22}x_2=b_2. \end{cases} $$

Nếu hai hàng của hệ thực chất chỉ là hai bản sao cùng phương, thì chúng không tạo đủ thông tin để chốt một nghiệm duy nhất. Nhưng nếu chúng thật sự độc lập, ta mong hệ có nghiệm duy nhất.

Từ đây nảy ra một nhu cầu tự nhiên:

ta cần một con số cho biết các cột hay các hàng của ma trận có thật sự tạo ra “một diện tích” hay không.

Con số đó chính là định thức.

2. Trong hai chiều, định thức là diện tích định hướng

Xét ma trận $$ A= \begin{bmatrix} a & b\ c & d \end{bmatrix}

$$ trong đó $$

u=\begin{bmatrix}a\c\end{bmatrix}, \qquad v=\begin{bmatrix}b\d\end{bmatrix}. $$

$$ \det(A)=ad-bc. $$

Ý nghĩa hình học của nó là:

  • $|\det(A)|$ bằng diện tích hình bình hành;
  • dấu của $\det(A)$ cho biết định hướng có bị đảo hay không.

Vì vậy:

  • nếu $\det(A)\neq 0$, hai vectơ không cùng phương;
  • nếu $\det(A)=0$, hình bình hành bị ép dẹt thành một đoạn thẳng.

Đó là lý do định thức bằng $0$ gắn chặt với ý tưởng “mất độc lập tuyến tính”.

3. Trong ba chiều và nhiều chiều, câu chuyện vẫn giữ nguyên

$$ |\det(A)| $$

cho ta thể tích của hình hộp ấy.

Lên cao hơn nữa, trực giác vẫn không đổi:

trong $\mathbb{R}^n$, định thức đo thể tích định hướng của hình hộp song song do các cột của ma trận sinh ra.

Bạn không nhất thiết phải “vẽ” được vật thể đó trong đầu. Điều quan trọng là hiểu rằng định thức vẫn đang đo cùng một thứ: mức co giãn của một miền n-chiều.

4. Một cách hiểu còn mạnh hơn: định thức đo độ co giãn của phép biến đổi

$$ T(x)=Ax. $$

Khi đó, định thức cho ta biết phép biến đổi này đã làm co giãn diện tích hay thể tích bao nhiêu lần:

$$ \operatorname{vol}(T(S))=|\det(A)|\operatorname{vol}(S). $$

Từ cách nhìn này, ta rút ra:

  • nếu $|\det(A)|>1$, thể tích bị nở ra;
  • nếu $0<|\det(A)|<1$, thể tích bị co lại;
  • nếu $|\det(A)|=1$, thể tích được giữ nguyên;
  • nếu $\det(A)=0$, một chiều nào đó đã bị làm sụp đổ.

Như vậy, định thức không chỉ trả lời câu hỏi “ma trận có khả nghịch không”, mà còn cho biết phép biến đổi đã tác động lên không gian như thế nào.

5. Vì sao định thức bằng $0$ lại quan trọng đến vậy?

Khi $\det(A)=0$, có nghĩa là ảnh của khối lập phương đơn vị không còn là một vật thể đầy đủ n-chiều nữa. Nó bị ép xuống một không gian thấp chiều hơn:

  • một hình bình hành thành một đoạn thẳng;
  • một hình hộp thành một mặt phẳng;
  • một miền n-chiều thành một vật thể có “thể tích” bằng $0$ trong không gian gốc.

Đó là nội dung hình học của việc ma trận không khả nghịch.

Nói ngắn gọn:

định thức bằng $0$ nghĩa là phép biến đổi đã làm mất ít nhất một hướng độc lập.

6. Các công thức tính chỉ là công cụ, không phải trực giác đầu tiên

Khi học định thức, ta thường gặp hai kiểu công thức:

6.1 Khai triển Laplace

$$ \det(A)=\sum_{j=1}^{n}(-1)^{i+j}a_{ij}\det(M_{ij}), $$

trong đó $M_{ij}$ là ma trận con thu được khi bỏ hàng $i$ và cột $j$.

Khai triển Laplace rất hữu ích để tính tay ở ma trận nhỏ, và quan trọng hơn là nó cho thấy định thức có tính chất đệ quy.

6.2 Công thức hoán vị

$$ \det(A)=\sum_{\sigma\in S_n}\operatorname{sgn}(\sigma)\,a_{1\sigma(1)}a_{2\sigma(2)}\cdots a_{n\sigma(n)}. $$

Nó cho thấy định thức được tạo ra bằng cách:

  • chọn đúng một phần tử trên mỗi hàng và mỗi cột;
  • cộng các tích đó lại;
  • kèm dấu theo chẵn lẻ của hoán vị.

Nhưng nên nhớ:

các công thức này là cách tính định thức, không phải cách tốt nhất để hiểu định thức lúc ban đầu.

Trực giác đầu tiên vẫn nên là diện tích, thể tích, và co giãn hình học.

7. Tóm lại, nên nhớ định thức như thế nào?

Có thể nén cả bài vào bốn ý:

  1. trong hai chiều, định thức đo diện tích định hướng;
  2. trong nhiều chiều, định thức đo thể tích định hướng;
  3. định thức bằng $0$ nghĩa là phép biến đổi làm sụp đổ ít nhất một chiều;
  4. $|\det(A)|$ là hệ số co giãn hình học của ánh xạ tuyến tính.

Khi nhớ được bốn ý này, các công thức đại số của định thức sẽ bớt rất nhiều vẻ tù mù.

Đọc tiếp